Bệnh Luput ban đỏ

 

View all

Lupus ban đỏ dạng đĩa


               

Lupus ban đỏ hệ thống








Người bị lupus ban đỏ cần biết

Danh từ lupus ban đỏ (lupus erythematosus) được sử dụng từ lâu để mô tả một số bệnh ở mặt như đỏ da, loét, teo da… Trong những năm gần đây, dựa trên các nghiên cứu về căn sinh bệnh học, thương tổn cơ bản, tiến triển lâm sàng… người ta chia lupus ban đỏ thành 2 thể chính là: lupus ban đỏ dạng đĩa và lupus ban đỏ hệ thống. Đối với những người mắc bệnh này, hiện nay y học đã có những tiến bộ mới trong điều trị và phụ nữ khi mắc bệnh vẫn có thể sinh con nếu được theo dõi chặt chẽ suốt thai kỳ.

Lupus ban đỏ dạng đĩa

Đây là thể nhẹ của lupus ban đỏ. Bệnh chỉ có thương tổn ở da, không có thương tổn nội tạng. Cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu hoàn toàn căn sinh bệnh học của lupus thể này. Tuy nhiên, nhiều yếu tố có liên quan đến bệnh đó được đề cập như: di truyền, ánh nắng mặt trời, nhiễm khuẩn và đặc biệt là rối loạn miễn dịch tại chỗ. Tuy nhiên, vẫn không tìm thấy kháng thể kháng nhân trong huyết thanh, hơn nữa nồng độ bổ thể trong máu vẫn bình thường nên người ta cho rằng cơ chế bệnh sinh của lupus ban đỏ dạng đĩa và lupus ban đỏ hệ thống là khác nhau. Mặc dù vậy, theo một số nhà nghiên cứu, có khoảng 1 - 3% bệnh nhân bị lupus ban đỏ dạng đĩa trong quá trình tiến triển có thể chuyển thành lupus ban đỏ hệ thống.

Thương tổn da điển hình và hay gặp là các dát đỏ có vảy dính khu trú ở những vùng hở như mặt, cổ, bàn tay… Các thương tổn này rất nhạy cảm với ánh nắng, nếu tiến triển lâu dài gây teo ở giữa (trông giống như cái đĩa nên gọi là “dạng đĩa”). Một số thương tổn có thể quá sản phì đại.

Để điều trị bệnh: bằng các thuốc bôi tại chỗ có corticoid như eumovate, diprosalic hoặc dermovate. Toàn thân dùng: các thuốc chống sốt rét có tác dụng rất tốt, song phải điều trị lâu dài nên cần phải theo dõi thị lực ít nhất 3 tháng/lần.

Lupus ban đỏ hệ thống

Lupus ban đỏ hệ thống là một trong các bệnh tự miễn rất hay gặp ở phụ nữ trẻ tuổi. Bệnh gây thương tổn nhiều cơ quan nội tạng như: da, niêm mạc, gan, thận, khớp, tim, phổi, thần kinh… Căn sinh bệnh học của lupus ban đỏ hệ thống rất phức tạp, do nhiều yếu tố tham gia. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, 2 yếu tố chính, quan trọng nhất được cho là có liên quan trực tiếp đến bệnh là di truyền và rối loạn miễn dịch. Ngoài ra một số yếu tố khác có ảnh hưởng, làm xuất hiện hoặc làm bệnh nặng thêm, đó là: nội tiết, ánh nắng, nhiễm khuẩn. Một số thuốc như: hydralazine, procainamide, isoniazide, sulfonamide, phenitoin, penicillamine có thể gây bệnh giống như lupus nên dễ chẩn đoán nhầm với lupus thực sự. Các thuốc tránh thai cũng có vai trò trong việc khởi động hay làm bệnh nặng thêm.



Lupus ban đỏ hệ thống có thể xuất hiện ở nhiều vị trí.

Dấu hiệu đa dạng của bệnh lupus ban đỏ 

hệ thống

Trong giai đoạn tiến triển, bệnh nhân luôn có cảm giác mệt mỏi, chán ăn, gầy sút, sốt vừa phải.

Lupus ban đỏ hệ thống và phụ nữ có thai

Phụ nữ bị lupus ban đỏ hệ thống cũng có thể có thai và sinh con. Tuy nhiên, vì đây là bệnh hệ thống, tiến triển lâu dài và có thể nguy hiểm cho tính mạng nên cần phải được cân nhắc, tư vấn rất cẩn thận trước khi quyết định có mang. Lý tưởng nhất là 6 tháng trước khi mang thai cần điều trị bệnh ổn định, không còn các triệu chứng ở các cơ quan nội tạng nữa. Trong thời kỳ mang thai, bệnh có thể tiến triển nặng lên, vì vậy bệnh nhân phải được theo dõi, điều trị nội trú trong các bệnh viện chuyên khoa để tránh các biến chứng cho cả mẹ và thai nhi.

Thương tổn da và niêm mạc: thường biểu hiện đầu tiên với các ban đỏ hình cánh bướm ở hai bên má. Các ban này rất nhạy cảm với ánh nắng. Sau một thời gian tiến triển, các thương tổn lan ra tay, chân, thân mình. Ngoài ra, các bọng nước, dát xuất huyết cũng có thể xuất hiện. Niêm mạc miệng, hầu, họng loét nhưng không đau.  Tóc vàng, dễ gẫy và rụng nhiều. Tuy nhiên, tóc có thể mọc lại khi khỏi bệnh.

Thương tổn nội tạng: rối loạn chức năng gan, thận, tiêu hoá. Có thể có viêm cơ tim, màng tim gây suy tim. Viêm phổi, màng phổi cũng hay gặp và có thể suy hô hấp.

Viêm khớp là một biểu hiện rất hay gặp, làm cho bệnh nhân khó vận động và đi lại. Ngoài ra, có thiếu máu, có thể giảm cả 3 dạng: hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.

Một số bệnh nhân có biểu hiện rối loạn phương hướng, tri giác, trí nhớ. Đôi khi có đau đầu dữ dội. Các triệu chứng tâm thần kinh có thể nặng thêm trong trường hợp dùng corticoid liều cao kéo dài.

Điều trị và theo dõi khi bị lupus ban đỏ hệ thống

Cần có một phác đồ điều trị đúng đắn tuỳ theo từng giai đoạn bệnh, đặc biệt phải duy trì chế độ thuốc và chế độ sinh hoạt, làm việc hợp lý kể cả khi bệnh đã ổn định. Điều trị tại chỗ: Bôi các thuốc mỡ có corticoid như eumovate, beprosalic, dermovate... Những bệnh nhân có hội chứng Raynaud cần có chế độ điều trị đặc biệt. Điều trị toàn thân: Corticoid vẫn là thuốc hàng đầu để điều trị lupus ban đỏ hệ thống. Liều lượng phải tuỳ theo từng giai đoạn bệnh, nhưng thông thường liều tấn công là 2-3mg/kg/ngày.
 
Tùy theo sự cải thiện bệnh, có thể cứ 1 - 2 tuần giảm 10mg. Một số thuốc ức chế miễn dịch khác cũng được sử dụng và rất có hiệu quả như: azathioprin, cyclosporin, mycophenolate mofetil… Tuy nhiên khi sử dụng cần thận trọng với các tác dụng không mong muốn. Trong những năm gần đây, một số chất sinh học như: inlicimab, etanercept... cũng được sử dụng để điều trị lupus ban đỏ hệ thống và cho kết quả rất khả quan. Một điều quan trọng cần lưu ý là phải điều trị các biến chứng nếu có. 
 
PGS.TS. Trần Hậu Khang (Giám đốc BV Da liễu TW) - SKĐS

Đông y trị luput ban đỏ
Theo Đông y chứng luput là do tiên thiên bất túc, nội thương thất tình, can khí uất trệ mà gây nên âm dương mất điều hòa, khí trệ huyết ứ gây tắc kinh lạc mà phát sinh bệnh hoặc thận tinh hư suy, hư hỏa bốc lên, kèm theo cơ bì lỏng lẻo, lại phơi nắng nóng xâm nhập gây ứ trệ mạch lạc. Cũng có thể do nhiệt độc tích tụ nung nấu dinh huyết, khiến huyết mạch bị chấn thương, tạng phủ rối loạn sinh bệnh.
Sau đây xin giới thiệu một trong số cách trị liệu tùy theo từng thể bệnh, để bạn đọc tham khảo:
Dùng phương Tần giao hoàn gia giảm: Hoàng kỳ 30g, kê huyết đằng 30g, tần giao 30g, thục địa hoàng 30g, đan sâm 30g, nữ trinh tử 30g, hoàng tinh 15g, bạch thược 15g, đương quy 15g, ô tiêu xà 6g, bạch nhân sâm 6g, hoàng liên 6g, liên tử tâm 12g, ngọc trúc 9g. Sắc uống ngày 1 thang. Chia 2 - 3 lần uống trong ngày.
Ngoài việc dùng thuốc, bạn có thể dùng một số món ăn sau để hỗ trợ điều trị.
Giai đoạn đầu có biểu hiện nhiệt thịnh nên ăn những thức như uống nước táo, nước dưa hấu, nước lê, nước rễ lau, nước mã thầy, ăn chè đậu xanh, chè đậu đỏ, nước kim ngân hoa... Lưu ý không ăn các thức cay nóng như rượu, thuốc lá, cà phê, chè đặc, ớt, thịt bò, thịt cừu, thịt ngựa, rau hẹ, hành tây, hoa vỏ quế...
Giai đoạn cuối của bệnh có biểu hiện rõ rệt triệu chứng thận âm khuyết hư nên ăn nhiều những thức có công năng dưỡng âm bổ thận như sơn tra, nước hoa quả, nước lô căn (rễ lau), nước mía, ba ba, thịt rùa, yến sào, câu kỷ tử... cần uống đủ nước trong ngày, kiêng các thức cay nóng, rượu, thuốc lá...
Có thể dùng một trong các món ăn sau để góp phần khống chế bệnh.
Chè mễ nhân: mễ nhân 30g, nấu nhừ cho chút đường trắng trộn đều ăn mỗi ngày 1 bát.
Thịt rắn nước (có nơi còn gọi là răn mẫn): rắn nước 1 con, để cả da hấp, nêm chút gia vị, uống nước canh, ăn thịt rắn.
Nước kim ngân: kim ngân hoa sắc đặc uống. Mỗi lần uống 30ml, ngày uống 3 lần.
BS. Hoàng Xuân Đại (SKĐS )


Comments